Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Căng thẳng stress, đau cơ

Các nhà khoa học đã tìm ra những triệu chứng đáng ngạc nhiên cảnh báo cơ thể bạn đang căng thẳng và bạn đang phải đối mặt với stress.
Lần stress gần đây nhất mà bạn trải qua là khi nào? Bạn có nhớ được những phản ứng của cơ thể mình không?

Các chuyên gia sức khỏe cho rằng stress có những dấu hiệu vô cùng đáng ngạc nhiên, từ việc quên quên nhớ nhớ đến bị nôn mửa hoặc dị ứng da. Hãy tìm hiểu xem có phải stress đang de dọa bạn và cơ thể bạn đã lên tiếng cảnh báo hay không, để tìm cách đảo ngược tình thế nhé.

Đau cơ


Bạn cảm thấy vùng cổ, vai của mình đau và nghĩ là do ngồi máy tính trong nhiều giờ. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Elizabeth Lombardo, một nhà tâm lý học và vật lý trị liệu tại Wexford, Pennsylvania thì "Sự căng thẳng chắc chắn ảnh hưởng đến hệ thống cơ xương khiến co thắt cơ bắp ra tăng và gây đau".

Vì thế, nếu bạn cảm thấy đau vai và cổ mà có thể nguyên nhân là stress thì hãy thử biện pháp sau: 5-10 phút hít thở sâu và thư giãn nhưng vùng căng thẳng của cơ thể. Đối với cổ, hãy thử xoay nhẹ nhàng hoặc nhờ chồng bạn xoa bóp vùng vai.

Máy mắt dẫn tới căng thẳng mệt mỏi stress

Khi căng thẳng, mắt bạn sẽ bị máy. Nói một cách khoa học là hiện tượng co giật ở mí mắt. Hiện tượng này nói lên rằng cơ thể bạn đang căng thẳng và mắt bạn mỏi mệt.
Theo tác giả cuốn sách Stress addiction, Debbie Mandel, việc tốt nhất lúc này là bạn hãy nhắm mắt lại và tưởng tượng đến những gì hạnh phúc nhất đối với bạn; hoặc hãy mở cửa sổ và cho mắt nhìn một tầm xa và rộng hơn.

Đau răng

Không phải lười đánh răng mới bị sâu răng, đôi khi sâu răng cũng là một biểu hiện của căng thẳng. Theo các chuyên gia, căng thẳng thần kinh hay khiến các bạn nghiến răng mỗi đêm. Việc này làm mòn răng và khiến chúng dễ bị sâu.

Cắn móng tay

Thỉnh thoảng bạn bắt gặp mình đang cắn móng tay. Hãy coi chừng, đó là biểu hiện của stress. Theo tiến sĩ Mandel, cắn móng tay là một trong những hành động của phụ nữ mỗi khi phải đối phó với căng thẳng thần kinh hoặc lo âu. Lời khuyên lúc này là bạn hãy sắm sửa cho mình một quả bóng mềm, để bóp hoặc vặn vẹo nó mỗi khi căng thẳng. Nó sẽ giúp tống khứ stress khỏi cơ thể bạn, Mandel nói.

Buồn nôn chóng mặt ợ hơi ợ chua

Bạn cảm thấy buồn nôn? Đừng quá lo lắng, vì "Căng thẳng có thể gây khó chịu dạ dày, và buồn nôn có thể là một sản phẩm phụ của lo lắng" theo tiến sĩ Mandel. Nếu lo lắng khiến bạn buồn nôn, hãy thử để nước ấm chạy trên ngón tay của bạn; nó sẽ giúp cơn buồn nôn qua đi nhanh chóng.

Đãng trí

Có nhiều khi bạn cảm thấy mình chẳng nhớ nổi điều gì cả, từ chiếc chìa khóa xe để đâu đến phải mua gì cho bữa tối. Có thể stress chính là thủ phạm gây ra điều đó. Nghiên cứu cho thấy stress có thể làm giảm kích thước của hippocampus- vùng có trách nhiệm ghi nhớ của não. Theo tiến sĩ Lombardo. "May mắn là kích cỡ của nó sẽ trở lại bình thường sau khi làm giảm mức độ căng thẳng của bạn."

Vậy bạn muốn giữ cho bộ não của bạn hoạt động ở mức độ tối ưu? Hãy tập thể dục. Việc này sẽ khiến não bộ của bạn khỏe mạnh và hoạt động sắc nét hơn.

Nổi mẩn

Thật lạ lùng! Nhưng da bạn lại chính là một thước đo hoàn hảo cho sự căng thẳng. Bạn thường thấy những điểm đỏ hoặc phát ban trên bụng, lưng, tay và mặt khi căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, hãy đặt tay lên bụng và thở sâu, thở đều khoảng 5-10 phút, thỉnh thoảng lại làm thế trong suốt cả ngày.

Khi nghi ngờ viêm loét dạ dày tá tràng nên làm gì

Những biến chứng thường gặp trong bệnh viêm loét dạ dày tá tràng là gì?


Các trường hợp viêm dạ dày - tá tràng nếu không phát hiện sớm và điều trị đúng thì sẽ dẫn đếnviêm mạn tính hoặc trở thành loét. Trong các bệnh về dạ dày thì đáng sợ nhất là viêm bờ cong nhỏ dễ biến chứng thành loét và có thể dễ đưa đến ung thư hóa tuy rằng viêm, loét dạ dày thì ít đau hơn viêm loét tá tràng.

Ngược lại, viêm loét tá tràng ít bị ung thư hơn nhưng thường hay đau, dễ gây hẹp môn vị (do hành tá tràng loét xơ chai gây co kéo môn vị), đặc biệt là làm chảy máu. Chảy máu hành tá tràng có thể ồ ạt phải cấp cứu hoặc chảy máu ri rỉ làm cho phân thường có màu đen.

Trong trường hợp chảy máu nhiều thì phân thường đen như nhựa đường và mùi hôi rất đặc biệt như "mùi cóc chết".

Biến chứng thủng dạ dày cũng thường gặp. Có những bệnh nhân do bị loét ngầm nên bình thường không đau bụng hoặc đau rất ít, đột nhiên bị thủng dạ dày phải cấp cứu. Trong trường hợp bị thủng dạ dày mà cấp cứu không kịp thời thì dễ đưa đến gây viêm phúc mạc, sốc nhiễm khuẩn và có thể bị tử vong.

Bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng có thể nhầm với bệnh gì ?

Một số bệnh khi đau vùng thượng vị có thể nhầm với viêm loét dạ dày - tá tràng như viêm tụy, viêm đường dẫn mật, sỏi đường dẫn mật. Trong một số trường hợp viêm ruột thừa ở những giờ đầu cũng có thể đau thượng vị (tỷ lệ này thấp) hoặc ngộ độc thức ăn gây viêm dạ dày cấp tính trong một vài giờ đầu của bệnh.

Đau bụng âm ỉ, đi ngoài phân đen có thể nhầm với những bệnh nhân bị giun móc. Trong những trường hợp này cần xét nghiệm tìm trứng giun móc.

Khi nghi ngờ viêm loét dạ dày tá tràng nên làm gì


Không nên tự điều trị mà nên đi khám bệnh để được thầy thuốc khám cẩn thận sau đó sẽ cho chỉ định chụp dạ dày, đặc biệt là nội soi dạ dày (nếu bệnh viện có điều kiện) để chẩn đoán xác định xem có bị viêm loét dạ dày tá tràng hay không?

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

Những thủ phạm nào gây ra bệnh viêm loét dạ dày


Thủ phạm gây bệnh viêm loét dạ dày, tá tràng

Tỷ lệ viêm loét dạ dày - tá tràng ngày càng tăng ở Việt Nam, bệnh chiếm khoảng 26% và thường đứng đầu trong các bệnh ở đường tiêu hóa và thủ phạm chính gây ra căn bệnh này chính là do nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori.

Triệu chứng lâm sàng của viêm loét dạ dày thông thường và ung thư dạ dày khó phân biệt, đều là đau rát vùng thương vị, đầy bụng, khó tiêu, chỉ chẩn đoán phân biệt khi nội soi dạ dày để quan sát tổn thương và lấy mẫu tế bào sinh thiết, làm các xét nghiệm khác.

Đại đa số bệnh nhân ung thư dạ dày phát hiện khi đau quá không chịu được, gầy sút nhanh và đã ở giai đoạn nguy hiểm, nên tiên lượng rất xấu, chỉ có 15% bệnh nhân sống thêm được 5 năm. 



Dạ dày loét, tổn thương do vi khuẩn HP.

Ung thư dạ dày có thể lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể và cơ hội hồi phục thấp, gây tỷ lệ tử vong rất cao. Thời gian sống của người mắc bệnh trung bình thường dưới 1 năm bất kể khối u ban đầu nằm ở vị trí nào. Hiện tại, chưa có phương pháp nào để kéo dài khoảng thời gian này.

Một số lý do mà bạn nên ăn chậm món ăn


Ăn chậm, nhai kỹ giúp thực phẩm được chia nhỏ khi vào dạ dày, cơ thể bạn sẽ có quá trình tiêu hóa tốt hơn.

Ông bà, cha mẹ từng dặn rằng nên ăn chậm. Bạn có thể nghĩ rằng những điều họ nói không quan trọng. Quả thực có rất nhiều lý do để bạn thưởng thức bữa ăn của mình một cách chậm rãi.

1. Giảm cân

Não phải mất khoảng 20 phút để nhận được tín hiệu rằng cơ thể đã no, bạn sẽ tiêu thụ ít calo hơn nếu ăn từ từ. Ăn nhanh, bạn có xu hướng ăn rất nhiều nên sẽ tăng cân. Khi ăn chậm, bạn có thể ăn một số loại thực phẩm yêu thích mà không bị tăng cân. Vì vậy, một trong những cách dễ nhất và rẻ tiền để giảm cân là ăn thật chậm.



2. Thưởng thức vị ngon của món ăn

Càng ăn thật chậm, bạn càng có thể thưởng thức được vị ngon của các món. Ngoài ra niềm vui từ ăn uống sẽ tăng lên. Một trong những phần thưởng sau giờ làm việc vất vả là các món ăn để thỏa mãn cơn đói. Thật tuyệt vời khi bạn dành nhiều thời gian hơn để thưởng thức những món ăn yêu thích ấy.

3. Cải thiện tiêu hóa
Ăn chậm, nhai kỹ, thực phẩm được chia nhỏ hơn khi vào dạ dày, cơ thể sẽ có quá trình tiêu hóa tốt hơn không ợ hơi ợ chua. Trên thực tế, nếu bạn nhai thức ăn đúng cách, quá trình tiêu hóa bắt đầu ngay trong miệng. Cơ thể sẽ phải mất ít năng lượng hơn cho việc tiêu hóa. Đây là một trong những lợi ích sức khỏe chính của việc ăn chậm.

4. Một sự thay đổi trong lối sống

Khi dành thời gian để đánh giá cao những gì mình đang ăn và ăn từ từ, sẽ ảnh hưởng tích cực đến toàn bộ lối sống của bạn. Phòng tránh bệnh viêm loét dạ dày hành tá tràng. Mức độ căng thẳng giảm xuống vì bạn không vội vàng, liên tục làm việc với cường độ cao. Lối sống này giúp bạn đạt được nhiều niềm vui và thành công hơn mong đợi.
5. Một cách tốt để rèn luyện tâm trí

Khi chú ý đến những gì đang ăn và đặt tất cả sự tập trung vào thực phẩm, bạn đang thực sự rèn luyện tâm trí của mình. Ăn chậm giúp bạn rèn luyện tâm trí và tránh xa những phiền nhiễu, giúp bạn tìm hiểu cách hoàn toàn tập trung vào chỉ một việc và tận dụng tối đa thời gian để hoàn thành việc đó.

VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG

VIÊM LOÉT DẠ DÀY - HÀNH TÁ TRÀNG

Trong những năm gần đây bệnh viêm loét dạ dày hành tá tràng ngày càng trở nên phổ biến, việc điều trị bệnh cũng có nhiều thay đổi, các thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng ngày càng nhiều và ngày càng có công dụng điều trị bệnh một cách hiệu quả hơn. Nhờ đó mà quan điểm và phương pháp điều trị đã thay đổi hẳn, từ một bệnh chủ yếu điều trị bằng ngoại khoa, đã trở thành một bệnh chủ yếu điều trị bằng nội khoa. Những ai đang gặp phải bệnh viêm loét dạ dày hành tá tràng thì nên tham khảo một số loại thuốc điều trị hiệu quả sau đây nhé!



Viêm loét dạ dày tá tràng ,  Thuốc tây điều trị viêm loét dạ dày hiện nay


Có thể nói, đây là một bước ngoặt, một tiến bộ rất lớn trong điều trị loét dạ dày tá tràng. Những trường hợp loét dạ dày tá tràng phải mổ ngày càng ít dần đi, chỉ dành cho những trường hợp loét có biến chứng như chảy máu, thủng hay hẹp môn vị. Chúng ta hy vọng rằng, ngay cả những trường hợp có biến chứng này trong tương lai sẽ ngày càng ít đi và tiến tới không còn nữa, nếu bệnh loét được phát hiện sớm, điều trị kịp thời bằng những thuốc đầy hiệu quả như ngày nay.

Tính hiệu quả cao của những thuốc đó, cộng thêm sự hiểu biết ngày càng sâu hơn về vi khuẩn Helicobacter Pylory (H.P), nguyên nhân chính gây nên viêm loét dạ dày, sẽ làm cho hiệu quả điều trị nội khoa bệnh loét đạt đến đỉnh cao ngoài sức tưởng tượng. Biện pháp phẫu thuật chỉ còn để dàng cho những trường hợp rất hãn hữu, ngoại lệ mà thôi. Có thể nói, với sự xuất hiện của thuốc cimetidin đầu tiên, đã mở ra một thời đại mới trong điều trị hết sức hiệu quả bệnh loét dạ dày tá tràng, chẳng khác nào sự xuất hiện của Penicilline, đã mở ra một kỷ nguyên mới của kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm trùng.

Đau đầu do thời tiết, mất ngủ kéo dài

1. Đau đầu do thời tiết, mất ngủ kéo dài


Theo BS Hữu Lợi, Viện Châm cứu TƯ, có nhiều nguyên nhân gây đau đầu, nhưng đau đầu do thời tiết thay đổi thường dai và dữ dội.

Xử trí: Đau đầu do thời tiết thì không phòng tránh được, mà phải dùng thuốc giảm đau hoặc day huyệt, châm cứu và nghỉ ngơi để giúp cơn đau đầu qua đi. Người bệnh không nên tự ý dùng thuốc giảm đau khi chưa có y lệnh. Hàng ngày năng tập thể dục, ăn uống đủ chất để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

2. Đau đầu vì stress, dẫn đến ngủ không sâu giấc và căng thằng

Căng thẳng, stress, áp lực công việc… là nguyên nhân phổ biến dẫn đến chứng đau đầu và đau nửa đầu. Thần kinh hoạt động quá tải,căng thẳng, ăn uống thiếu chất… dẫn đến hơn 70% trường hợp đau đầu cấp tính.

Xử trí: Ngay khi bắt đầu cảm thấy bị đau đầu hãy dừng tất cả mọi việc để tìm chỗ thư giãn, hít thở không khí trong lành và vận động nhẹ nhàng để cơn đau dịu xuống.

Hãy lấy trọng tâm là giữa lông mày, nhắm mắt, ngồi thẳng lưng, tâm hồn tĩnh lặng, tưởng tượng đang ở trong rừng, dưới biển, có suối chảy, tiếng chim hót… sẽ bớt đau đầu. Bạn cũng có thể ngủ ít phút hay nằm nghe nhạc và không nghĩ ngợi để giảm căng thẳng, cơn đau có đến cũng không dữ dội (nhưng không nằm ì vì sẽ bị nặng đầu).

Nếu thư giãn không đỡ phải đi khám để được điều trị sớm. Phòng ngừa bằng cách xây dựng thời gian làm việc - nghỉ ngơi điều độ, sinh hoạt hợp lý. Dành thời gian thư giãn (ngâm mình trong bồn nước ấm, dạo bộ, đi bộ, chạy bộ, đạp xe, hay thiền, hít thở sâu, yoga…) để hạn chế những yếu tố kích thích đau đầu.

3. Đau đầu vì giấc ngủ ngủ không sâu giấc

Thiếu ngủ, mất ngủ, ngủ không đủ giấc, ngủ không sâu… làm mạch máu giãn ra, kích thích mạnh các dây thần kinh gây đau đầu, nhất là đau nửa đầu.

Xử trí: Cần ngủ bù, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giảm 29% tần suất và 40% mức độ đau đầu và đau nửa đầu, đảm bảo sức khoẻ cho não bộ. Để tránh bị đau đầu do mất ngủ, hãy tự rèn thói quen đi ngủ và thức dậy đúng giờ. Tập thể dục thường xuyên để có giấc ngủ sâu hơn. Nếu mất ngủ, ngủ không đủ giấc, giấc ngủ chập chờn… cần loại bỏ các thực phẩm có chất cafein trong khẩu phần.

4. Đau đầu vì thiếu nước

Mùa hè mồ hôi ra nhiều, mất nước và không bổ sung kịp hay bị đói cũng có thể gây đau đầu (hoặc đau nửa đầu), nếu lặp lại nhiều lần có thể dẫn đến đột quỵ.

Xử trí: Tránh ăn, uống các món dễ gây đau đầu như thực phẩm chứa Tyramine axit amin (có trong rượu vang đỏ, pho mát), Nitrat (xúc xích, đồ nguội, thịt chế biến sẵn), Phenylalanine amino acid (sôcôla)… làm mạch máu co thắt hoặc giãn nở máu đột ngột.

Nên bổ sung thêm protein và carbonhydrat để duy trì mức đường trong máu, giúp giảm các cơn đau đầu hiệu quả. Hàng ngày bổ sung đủ lượng calcium qua thực phẩm giàu calcium hoặc uống viên đa sinh tố (multi-vitamin) có bổ sung magie sẽ giảm bị đau đầu.

Để cơ thể khát nước hoặc mất nước cũng gây đau đầu, mỏi mệt. Nếu vậy hãy nằm nghỉ nơi mát mẻ, yên tĩnh, gối đầu thấp, uống thật nhiều nước để cân bằng cơ thể và bài tiết các độc tố. Bổ sung ngay nước muối sinh lý (hoặc nước nguội pha chút muối, đường) khi ra nhiều mồ hôi, mất nước gây đau đầu. Cần tránh bỏ bữa, cũng không nên để khoảng cách quá lâu giữa 2 bữa ăn.

5. Mùi hương liệu có thể dẫn đến đau đầu hoặc làm bạn căng thẳng

Nếu bạn tiếp xúc nhiều với các sản phẩm có mùi, nhất là nước hoa cũng khiến đau đầu.

Xử trí: Nếu bị đau đầu vì nguyên nhân này, nên tránh dùng nước hoa hoặc các sản phẩm có mùi. Khi cảm thấy ngột ngạt ở chỗ đông người, hãy mau chóng tìm nơi thoáng khí, uống một cốc nước và nếu có thể hãy ngửi mùi chanh tươi sẽ nhanh lấy lại cân bằng.

6. Đau đầu do ánh sáng

Ánh sáng mặt trời, bóng đèn huỳnh quang, màn hình từ máy tính… tác động rất lớn đến dây thần kinh thị giác, thần kinh sinh ba, giải phóng các chất hóa học gây đau đầu, nhức mắt.

Xử trí: Để tránh bị đau đầu do ánh sáng, mùa hè đi nắng nên đeo kính chống nắng. Người hay bị đau đầu nên dùng bóng đèn sợi đốt trong phòng thay các bóng đèn huỳnh quang. Làm việc với máy tính giữ khoảng cách an toàn từ mắt đến màn hình trên 25cm.

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

Chữa đau thượng vị dạ dày

Vùng thượng vị tức là vùng trên rốn và dưới mũi xương ức. Đau vùng thượng vị là một triệu chứng rất hay gặp ở một số bệnh thông thường trong cuộc sống hằng ngày. Có loại đau thượng vị chỉ đơn thuần nhưng cũng có loại đau thượng vị thuộc loại kết hợp và đặc biệt có những loại đau thượng vị thuộc loại trọng bệnh, rất nguy hiểm. Nguyên nhân của đau thượng vị rất đa dạng và khó xác định.

Nguyên nhân hay gặp nhất khi đau vùng thượng vị
Đau vùng thượng vị có khi là cấp tính có khi là âm ỉ kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày, thậm chí kéo dài nhiều tuần tuỳ theo từng nguyên nhân gây nên bệnh. Điển hình trong đau thượng vị là đau dạ dày mà trong chuyên môn y học thường gọi là hội chứng dạ dày – tá tràng. Cơn đau thượng vị có khi cấp tính như đợt cấp của viêm dạ dày – tá tràng trên một người bệnh đã mắc bệnh về dạ dày từ lâu, nay vì một lý do nào đó làm xuất hiện cơn đau cấp, ví dụ như đau sau khi uống rượu, bia, ăn thức ăn có vị chua như dấm, chanh, bún, bánh cuốn… hoặc bị viêm dạ dày cấp lần đầu do ngộ độc thực phẩm cấp tính. Cơn đau quằn quại, đau nhói, bụng trướng, đôi khi làm cho người bệnh vã mồ hôi, miệng khô, buồn nôn hoặc nôn… Trong trường hợp này nếu nôn được (nôn tự nhiên hay móc họng để nôn) thì cơn đau thượng vị có thể lắng xuống (kể cả trường hợp ngộ độc thực phẩm cấp tính). Đối với viêm dạ dày – tá tràng mạn tính hoặc loét dạ dày – tá tràng hoặc hẹp môn vị thì cơn đau thường âm ỉ, kéo dài gây khó chịu cho người bệnh, làm cho người bệnh hay cáu gắt, bộ mặt lúc nào cũng buồn chán (bộ mặt của người viêm loét dạ dày – tá tràng mạn tính). Đặc biệt của đau vùng thượng vị trong thủng dạ dày thì đau như dao đâm, bụng cứng như khúc gỗ, dáng đi của người bệnh cúi lom khom và bệnh nhân có thể bị choáng. Bệnh của gan hay bệnh của mật (đường dẫn mật, túi mật) cũng gây nên triệu chứng đau thượng vị như áp-xe gan, viêm gan làm cho gan sưng to, đau hoặc suy tim cũng làm gan sưng to do ứ máu ở gan cũng gây đau vùng thượng vị. Sỏi túi mật hoặc sỏi đường dẫn mật hoặc viêm đường mật cũng gây nên đau vùng thượng vị nếu không có kinh nghiệm thì rất dễ chẩn đoán nhầm là bệnh của dạ dày – tá tràng. Một số trường hợp điển hình như giun chui ống mật cũng gây đau vùng thượng vị. Cơn đau vùng thượng vị trong bệnh giun chui ống mật thường đau rất dữ dội, chổng mông lên, vã mồ hôi… Đau vùng thượng vị cũng có thể gặp trong bệnh của tụy như viêm tụy cấp, viêm tụy cấp chảy máu hoặc đôi khi đau thượng vị âm ỉ gặp trong viêm tụy mạn tính, ung thư đầu tụy. Viêm đại tràng cấp hoặc mạn tính cũng có thể gây đau thượng vị kèm theo đầy hơi trướng bụng, đi ngoài nhiều lần nhất là viêm đại tràng cấp tính. Trong một số trường hợp viêm đại tràng mạn tính có kèm theo táo bón kéo dài thường có thể có đau vùng thượng vị một cách âm ỉ, không rầm rộ. Bệnh về tim mạch tuy rất ít nhưng cũng có thể biểu hiện cơn đau vùng thượng vị như bệnh mạch vành (thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim), suy tim nặng gây gan to, tim to… Trong một số trường hợp người bệnh ho nhiều (cả trẻ em cả người lớn) gây co thắt cơ hoành cũng gây đau vùng thượng vị hoặc trong bệnh áp-xe cơ hoành cũng gây nên đau vùng thượng vị. Đau vùng thượng vị cũng có thể gặp ở một số trẻ em bị nhiễm giun gây đau bụng. Đau bụng do giun thường là đau quanh rốn nhưng cũng có trường hợp ngoài đau quanh rốn có kèm theo đau vùng thượng vị. Viêm ruột thừa là bệnh mà nhiều người đều biết rằng triệu chứng điển hình là đau hố chậu phải nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, nhất là trẻ em thì sau khi đau ở thượng vị mới khu trú đau ở vùng hố chậu phải.

Như vậy đau vùng thượng vị là một triệu chứng của nhiều bệnh, có những bệnh có liên quan với nhau nhưng cũng có những bệnh không liên quan với nhau. Triệu chứng có thể là xuất hiện đột ngột mang tính chất cấp tính như ngộ độc thực phẩm, viêm dạ dày cấp, viêm túi mật cấp, thủng dạ dày,viêm tụy cấp… nhưng cũng rất nhiều bệnh mang tính chất đau âm ỉ, kéo dài như viêm loét dạ dày tá tràng mạn tính, viêm đại tràng, nhiễm giun, gan to, suy tim…

Khi bị đau vùng thượng vị nên làm gì?

Với rất nhiều nguyên nhân gây đau vùng thượng vị mà ngay cả bác sĩ cũng phải kết hợp nhiều yếu tố mới chẩn đoán đúng bệnh, vì vậy khi bị đau vùng thượng vị nhất là đau lần đầu, mang tính chất dữ dội thì cần đi khám bệnh ngay để đề phòng các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng (thủng dạ dày – tá tràng, viêm phúc mạc mật, viêm ruột, thừa, ngộ độc thực phẩm cấp tính…) có thể xảy ra. Những trường hợp bị bệnh mạn tính gây đau vùng thượng vị như bệnh thuộc về dạ dày, bệnh về đường dẫn mật, bệnh về tim mạch, bệnh nhiễm giun… cũng rất cần khám bệnh định kỳ theo lời dặn của bác sĩ để được theo dõi và điều trị hết nguyên nhân càng sớm càng tốt. 

Hiện nay nhờ sự tiến bộ của khoa học y học cho nên việc chẩn đoán và điều trị các bệnh về dạ dày – tá tràng,

 bệnh về gan mật, tụy tạng, bệnh do giun, bệnh tim mạch… thuận lợi và chính xác hơn rất nhiều. Điều trị bệnh tốt nhất là phải tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ. Cần có chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý. Một số bệnh gây đau vùng thượng vị cần kiêng khem trong ăn uống như bệnh về dạ dày không nên ăn chua cay, không uống rượu, bia, hạn chế uống cà phê và tuyệt đối không hút thuốc lá hoặc tránh căng thẳng thần kinh. Những bệnh thuộc về hệ tim mạch, gan mật cũng rất cần một chế độ điều trị thích hợp, chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Các triệu chứng của bệnh viêm đại tràng

Các triệu chứng thông thường của viêm đại tràng co thắt bao gồm:

Đau bụng, thường là đau bụng ở hố chậu trái hay phải.
Tiêu chảy, phân có nhày, có thể có máu
Chảy máu trực tràng .

Viêm đại tràng có thể có rất nhiều nguyên nhân khác nhau, dựa vào nguyên nhân người ta phân loại một số loại viêm đại tràng sau.
Viêm đại tràng do vi khuẩn gây ra (như shigella ,Campylobacter , E. coli , và C. difficile )
Viêm đại tràng do virus (như cytomegalovirus [CMV])
Viêm đại tràng bức xạ (ví dụ như sau điều trị bằng bức xạ cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt )
Viêm đại tràng thiếu máu cục bộ (như tắc nghẽn của động mạch cung cấp máu cho đại tràng bởi một cục máu đông. Nếu cục máu đông ngắt dòng chảy của máu đến một phân đoạn của đại tràng, kết quả là viêm của đoạn đại tràng đó, và đôi khi thậm chí là hoại tử).
Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng (hai liên quan đến điều kiện được gây ra bởi các bất thường của hệ thống miễn dịch của cơ thể trong đó cơ thể tạo tự kháng thể tấn công đại tràng). Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng viêm đại tràng mãn tính cũng được gọi là bệnh viêm ruột (IBD).

Truyền nhiễm, phóng xạ, thiếu máu cục bộ, viêm loét, và viêm đại tràng Crohn tất cả đều gây tổn thương có thể nhìn thấy lớp niêm mạc của đại tràng. Những bất thường bao gồm phù (sưng lớp niêm mạc), đỏ, chảy máu từ niêm mạc với cọ xát nhẹ nhàng , và loét. Những bất thường này có thể được phát hiện nhờ nội soi (kiểm tra toàn bộ đại tràng bằng cách sử dụng một ống có gắn camera dài linh hoạt) hoặc soi đại tràng sigma linh hoạt (kiểm tra trực tràng và đại tràng sigma- phân khúc đại tràng gần trực tràng).

Phù nề và tình trạng viêm của lớp niêm mạc đại tràng cản trở sự hấp thu nước từ thức ăn gây ra tình trạng tiêu chảy do nước không được hấp thu vào đại tràng. Mủ và chất tiết của đại tràng tăng tiết, máu chảy từ các vết loét hay trợt từ lòng đại tràng cũng có mặt trong phân được bài tiết nên triệu chứng tiêu chảy của viêm đại tràng cũng khác với nguyên nhân khác.

Viêm đại tràng là gì ?

Đại tràng là phần cuối cùng trong hệ thống ruột của cơ thể. Viêm đại tràng co thắt gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống cũng như dinh dưỡng với cơ thể.

Viêm đại tràng có nghĩa là tình trạng đại tràng bị viêm nhiễm. Đại tràng, còn được gọi là ruột già, là phần cuối của đường ống tiêu hóa trong cơ thể. Đại tràng là một ống dài khoảng 1,2m nhận thức ăn đã được tiêu hóa và hấp thu từ ruột non.
Có hai loại viêm đại tràng, viêm đại tràng mãn tính và viêm đại tràng co thắt
Nó hấp thụ nước và muối khoáng từ thức ăn và cùng với sự phân hủy cùng các vi khuẩn tạo bã thức ăn thành phân, khi đủ lượng đại tràng sẽ co bóp tạo nhu động và bài tiết phân qua trực tràng. Trực tràng là phần cuối cùng của đại tràng gần hậu môn.

Khó khăn vượt qua bệnh viêm loét dạ dày tá tràng

HÀNH TRÌNH CHỮA KHỎI BỆNH ĐAU, VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG


Từ sâu thẳm trong trái tim mình tôi mong muốn được một lần được gọi Chị và gia đình là những ân nhân. Người ân nhân tôi muốn nhắc tới ở đây là Lương Y Thu Phương, người đã chữa khỏi cho tôi căn bệnh viêm loét hang vị dạ dày đeo đẳng tôi hàng năm trời !

Là người làm công tác nghiên cứu khoa học tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tôi luôn phải đồng hành với các đề tài được giao. Công việc nghiên cứu là niềm đam mê vô cùng lớn lao đối với tôi, một công trình được hoàn thiện, một đề án được phê duyệt khiến tôi và các cộng sự vô cùng hạnh phúc và hãnh diện. Nhưng những thành công và hạnh phúc đã đưa tôi đến căn bệnh viêm loét hang vị dạ dày lúc nào không hay. Những buổi thức đêm, suy nghĩ triền miên, những cốc cafe đặc quánh dường như không thể thiếu được trong mỗi đề tài. Những buổi nhậu nhẹt với bạn bè và đồng nghiệp vào mỗi chiều tan sở là nguyên nhân chủ yếu khiến tôi bị bệnh. 

Một đêm năm 2008 đang suy nghĩ về đề tài Công nghệ vi sinh vật trong việc phát triển nền nông nghiệp sạch tại Việt Nam tôi thấy phần trên rốn tới ngực hơi đau và có cảm giác rát, nghĩ là cơn tức ngực thông thường nên tôi không để ý nhưng càng về sáng cơn đau và nóng rát càng dữ dội hơn. Không thể gắng gượng ngồi trước máy vi tính được nữa tôi vào giường nằm. Gần hai tiếng trôi qua nhưng cơn đau vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt, nhìn khuôn mặt tôi nhăn nhó vợ tôi lo lắng, trước thỉnh thoảng tôi cũng có biểu hiện như vậy, cứ mỗi lần như vậy là tôi lại vào giường nằm trằn trọc rồi cũng ngủ thiếp đi. Nhưng hôm đó vào khoảng 5h sáng phần trên rốn tôi như có ai thiêu đốt không tài nào chịu nổi tôi bảo vợ sửa soạn đồ đạc đưa tôi đi viện ngay.

Đến bệnh viện, sau khi hỏi han và khám lâm sàng bác sĩ nghi là tôi bị đau dạ dày, sở dĩ bác sĩ chưa kết luận là vì tôi chưa được nội soi (thông thường phải nhịn ăn trước 6 tiếng mà tôi thì mới ăn bát mì tôm và uống cafe lúc 2h sáng). Thời gian chờ đến 8h để nội soi với tôi là một cực hình. Là người đã từng lăn lộn với khoa học, trải qua bao thăng trầm của cuộc sống nên đã rèn cho tôi một sức chịu đựng ghê gớm nhưng lần này thì dường như tôi đã đầu hàng, đầu hàng thực sự, cơn đau khiến khuôn mặt tôi tím tái, ôm bụng đau quằn quại mà không sao kiềm chế được. Viêm loét dạ dày tá tràng


Thời khắc vào phòng nội soi cũng đã đến, cầm khăn mặt trong tay, nhìn chiếc ống mà lát nữa sẽ đưa vào cuống họng tôi thấy thật hãi hùng. May cho tôi là hôm nay được bác sĩ trưởng khoa Phạm viết Sinh trực tiếp nội soi nên thao tác thành thục, chỉ mỗi tội buồn nôn ọe thì ai cũng mặt đỏ tía tai như nhau. 


Cầm tờ kết quả nội soi bác sĩ kết luận tôi bị viêm xung huyết dạ dày, viêm loét hang vị dạ dày mức độ nặng. Trên tờ kết quả hằn sâu nhưng vết tím đen và vết loét do những lần bị trước nhưng tự liền sẹo tôi nhìn mà phát khiếp. Cầm đơn thuốc trên tay tôi ra về mà mặt vẫn nhăn nhó vì chỉ được một hộp sữa vợ mua vội trong lúc chờ nội soi, dạ dày không có thức ăn lại càng cọ sát và trào axit mạnh hơn khiến cơn đau ngày càng thêm dữ dội. Về tới nhà vợ tôi nấu ngay một nồi cháo để tôi ăn nhưng đến thìa thứ 3 thì không ăn nổi vì miệng đắng ngắt và có cảm giác ợ hơi, đầy bụng rất khó chịu. 




Uống thuốc được hai ngày cảm giác đau đã giảm nhưng vẫn còn âm ỉ, tôi gắng gượng ăn nhưng càng ăn thì bụng càng khó chịu. Mười ngày uống thuốc trôi qua mà bệnh thì không thuyên giảm, công việc bê trễ vì tôi không tài nào tập trung được nên đành phải xin nghỉ phép. Kết quả điều trị ở Viện không có tiến triển tôi đành nhờ bạn bè trong giới khoa học để tìm thầy thuốc giỏi. 

Chữa bệnh viêm đại tràng nhờ cải bắp

Bắp cải là món ăn thường nhật trong mùa đông của mỗi gia đình. Ngoài việc là món ăn ngon, rẻ tiền, bắp cải còn có nhiều tác dụng chữa bệnh kỳ diệu đã được khoa học kiểm chứng.

 Bắp cải chứa chất ngăn ngừa ung thư và chữa viêm loét dạ dày tá tràng


Đặc biệt, trong bắp cải còn chứa nhiều chất chống ung thư như sulforaphane, phenethyliothiocyante và Indol-33 carbinol. Sulforaphane, chất làm tăng sản xuất các loại enzym, loại bỏ các chất hoạt động tự do, phá huỷ các tế bào gây ung thư. Bắp cải giúp ngăn ngừa các bệnh ung thư về đường ruột, ung thư phổi và có thể cả ung thư vú. Thực nghiệm cho biết, các hợp chất đó ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư bằng cách bắt nó tự huỷ hoặc chặn đứng khả năng di căn. Indola trong bắp cải làm ức chế hoạt động của những chất thụ cảm với sự động dục, là đặc điểm của cơ chế ngăn ngừa ung thư vú và ung thư tuyến tuyền liệt.



Các nhà khoa học của trường Đại học Michigan (Hoa Kỳ) đã kết luận rằng, những phụ nữ ăn 4 – 5 bữa bắp cải/tuần sẽ giảm được 74% nguy cơ mắc chứng bệnh ung thứ vú. Các công trình nghiên cứu tại Netherland, Anh và Trung Quốc, Balan cũng cho kết quả tương tự.

Giúp chữa bệnh viêm loét dạ dày tá tràng

Nước ép bắp cải được chứng minh là có hiệu quả rõ rệt trong việc giúp lành vết loét, thành sẹo nhất là loét dạ dày, tá tràng, ruột. Tại Mỹ đã tiến hành một cuộc thí nghiệm cho những người loét dạ dày tá tràng đã uống 1/2 lít nước bắp cải mỗi ngày trong ba tuần. Sau đó qua nội soi, các chuyên gia đã thấy có sự hình thành một lớp màng nhày có hai chức năng vừa che chở, vừa tái tạo niêm mạc dạ dày.
Ngoài ra, họ còn xác định một hoạt chất có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày chỉ có trong bắp cải tươi và hàm lượng cao khi còn tươi xanh. Vì vậy, nếu bạn bị loét dạ dày, tá tràng hãy uống 1/2 cốc nước bắp cải ép vào mỗi sáng sớm và trước khi đi ngủ, bệnh sẽ giảm rõ rệt.
 Làm tăng sắc đẹp

Trong cải bắp chứa nhiều biotin, hay còn gọi là vitamin H, vốn được mệnh danh là “vitamin của sắc đẹp”. Biotin có tác dụng rất tốt, tạo điều kiện cho sự phát triển của móng tay, tóc; Làm đẹp da và có lợi cho hệ thống thần kinh, tuỷ xương, giúp giảm đau cơ. Vì thế, hãy thường xuyên bổ sung biotin bằng cách ăn rau cải bắp vài lần trong tuần.

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Viêm đại tràng nên ăn gì và kiêng những gì


Viêm đại tràng nên ăn uống gì, viêm đại tràng mãn tính


- Không nên kiêng khem quá mức; cần giữ cân bằng trong khẩu phần ăn; tránh những thức ăn khó tiêu, thức ăn không thích hợp (tùy theo từng bệnh nhân); nếu đi ngoài phân có mùi chua, nhiều bọt thì giảm các thức ăn dễ lên men như đường, sữa, dưa chua; nếu đi ngoài phân có mùi thối thì giảm ăn đạm, nên ăn sữa chua, dưa; trong trường hợp bị táo bón nên ăn những thức ăn nhuận tràng như khoai, sữa chua, củ cải. Một số món dưới đây dùng thích hợp: 
- Đậu ván, đại táo: Đậu ván 25g, đại táo 20g, bạch thược và trần bì mỗi thứ 5g. Sắc lấy hai nước hòa chung, chia uống 2 lần trong ngày vào sáng và tối. Ngày uống 1 lượng như thế để trị viêm đại tràng mãn do tỳ vị hư hàn. 
- Trái vải, hoài sơn: Vải khô chỉ lấy cơm 50g, hoài sơn 40g, hạt sen 30g, gạo tẻ 60g. Ba vị đầu giã nát, nấu cháo chung với gạo tẻ, mỗi tối ăn 1 lần, liên tục 15 - 20 ngày. Trị viêm đại tràng mãn tính do tỳ thận hư hàn. 




- Củ sen: Củ sen già còn tươi 150g, gạo tẻ 100g, đường cát trắng 30g. Làm sạch củ sen, bỏ đốt và vỏ, cắt miếng nhỏ, nấu cháo với gạo tẻ, khi cháo chín thêm đường cát, ngày ăn 1 thang. Trị viêm đại tràng mãn do tỳ thận hư hàn. 
- Cật heo, cốt toái bổ: Cật heo 2 cái, cốt toái bổ 10g, gia vị vừa đủ. Làm sạch cật heo, cắt miếng, cốt toái bổ dùng vải thưa bọc lại, cho chung vào nồi, thêm nước hầm trong 1 giờ, nêm muối và gia vị vừa miệng. Ngày ăn 1 thang, chia ăn 2 - 3 lần, ăn liên tục 5 - 7 ngày. 

- Bổ cốt chỉ, ngũ vị tử: Bổ cốt chỉ 12g, ngũ vị tử 10g, ngô thù du 6g, nhục đậu khấu 10g, gừng tươi 6g, đại táo 5 quả. Tất cả đem nấu lấy nước dùng trong ngày. 

- Bạch thược, phòng phong: Bạch thược, phòng phong, cam thảo, bạch truật mỗi thứ 10g đem nấu lấy nước để dùng trong ngày.

2. Viêm đại tràng nên kiêng gì, viêm đại tràng co thắt

- Không nên uống rượu, bia, cà phê vì gây kích thích đại tràng. Trứng, thịt mỡ, món chiên xào nhiều dầu mỡ, dưa cải chua, mắm, nước ngọt có gas... cũng nên hạn chế để không gây đầy bụng, rối loạn đi tiêu.

- Không nên ăn các thực phẩm có nhiều lactose như sữa, nhiều đường như quả ngọt, mật ong, nhiều sorbitol (có trong bánh kẹo ngọt) vì bệnh nhân có biểu hiện kém hấp thu các loại đường này, do đó ăn vào sẽ gây trướng bụng, đầy hơi và tiêu chảy. 

- Với người bị viêm đại tràng, một bữa ăn quá nhiều năng lượng, nhất là nhiều chất béo cũng có thể gây bau bụng. Do đó, nên chia nhiều bữa nhỏ để đảm bảo năng lượng. Nếu bị dị ứng đặc biệt với thực phẩm nào thì nên loại trừ khỏi thực đơn. Nếu muốn dừng lại thì nên ăn với số lượng thật ít và kèm với các thực phẩm khác. 

- Trong trường hợp bị táo bón, cần giảm chất béo, tăng chất xơ (đặc biệt là dưới dạng hòa tan như pectin, insulin, oligofructose...). Ăn làm nhiều bữa nhỏ, khoảng hơn 2 tiếng lại ăn một bữa.

- Nếu bị tiêu chảy, tránh hẳn chất xơ dạng không tan như cellulose để thành ruột khỏi bị cọ xát. Không ăn rau sống, trái cây khô, trái cây đóng hộp. Nếu ăn trái cây tươi thì phải gọt bỏ vỏ.

- Người bị viêm đại tràng mãn tính nên chú ý ăn đúng giờ, không nên bỏ bữa hoặc ăn các món ăn lạ. Ngoài chế độ ăn uống, bệnh nhân viêm đại tràng mạn phải có tinh thần lạc quan, yêu đời, an tâm điều trị. Có chế độ thể dục hợp lý để tăng cường sức khỏe, tránh lo âu, phiền muộn nếu không bệnh có thể nặng thêm.

Chữa viêm đại tràng bằng mật lợn

Mật lợn dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Danh y biệt lục là chất lỏng lấy trong túi mật của Lợn, tên động vật Sus scrofa domestica Brisson, họ Lợn (Suidae). Ở nước ta đâu cũng có nuôi lợn, nếu cần lấy làm thuốc đặt mua tại các lò mổ lợn.Mật lợn dùng kết hợp với nghệ vàng hoặc gừng tươi có thể chữa chốc đầu, nhọt độc.

Mật động vật được dùng làm thuốc trong cả y học hiện đại và y học cổ truyền. Mật lợn có vị đắng, tính hàng, qui kinh Can, Đởm, phế, Đại tràng. Còn y học cổ truyền mật lợn có tác dụng thanh phế hóa đàm, thanh nhiệt giải độc. Thành phần hóa học chung của mật là acid cholic, acid dehydro-cholic, cholesterol, muối mật, sắc tố mật bilirubin. Tác dụng chủ yếu của mật là giảm đau, làm se, kích thích tiêu hóa, lợi tiểu (dùng uống) và tiêu xưng, diệt khuẩn, hàn vết thương (bôi ngoài).

. Viêm đại tràng  mãn tính nên ăn gì


1. Cách lấy mật lợn

Ít dùng tươi vì rất đắng, khó uống lại không để được lâu. Mật lợn thường được chế biến như sau: Cắt túi mật, hứng nước mật vào một bát to đã khử khuẩn. Đun cách thủy, khuấy đều cho đến khi nghiêng bát mà mật không chảy là được dạng cao lỏng. Hoặc nhỏ từ từ dung dịch no phèn chua vào nước mật đến khi hết kết tủa. Lọc để lấy tủa. Rửa tủa bằng nước cất, để loại phèn thừa. Đựng tủa trong một đĩa men, cho vào tủ sấy ở nhiệt độ dưới 70 độ C đến khi khô. Tán thành bột, sẽ được cao khô.


2. Cách dùng mật lợn để chữa viêm đại tràng co thắt


- Mật lợn chữa đau bụng, đau dạ dày, ho, ho gà, hen, viêm đại tràng, vàng da, sỏi mật. Dùng cao mật đặc với liều 0,5-2 g một ngày.

- Sirô mật lợn chữa ho gà: Lấy cao mật khô tán mịn, trộn với sirô, tỷ lệ 1 ml sirô chứa 2 mg cao. Ngày uống 3 lần, mỗi lần nửa thìa cà-phê cho trẻ dưới 1 tuổi; 1-2 tuổi uống 1 thìa; 3 tuổi dùng 1 thìa rưỡi; hơn 3 tuổi dùng 2 thìa.
- Viên mật lợn trị táo bón: Bột cao mật lợn khô trộn với tá dược làm thành viên 0,1 g. Người lớn mỗi ngày uống 6-12 viên, chia làm 2 lần uống vào sáng sớm và buổi tối trước khi đi ngủ. Nếu táo bón nhiều, có thể dùng ngày đầu 20 viên rồi giảm dần. Xí nghiệp Dược phẩm 1 đã bào chế viên Lô đảm gồm cao mật lợn, lô hội, phenolphtalein để chữa táo bón, suy gan, nhiễm khuẩn đường ruột. Ngày uống hai lần, mỗi lần 2-4 viên sau bữa ăn.
- Viện y học cổ truyền dùng cao mật lợn chữa hen suyễn. Mật lợn uống với hạt vừng đen làm tăng tác dụng nhuận tràng.
- Dùng ngoài, nước mật lợn để nguyên hoặc cô đặc phối hợp với hoàng bá, bôi chữa bỏng; kết hợp với nghệ vàng hoặc gừng tươi, bôi chữa chốc đầu, nhọt độc; với cao đặc hành tươi, củ tỏi, lá trầu không và lá ớt chữa vết thương phần mềm, bỏng. Mật lợn phối hợp với củ sả, hạt muồng trị rắn cắn; với ít giấm đem thụt vào hậu môn làm thông đại tiện.

Viêm đại tràng bị viêm nhiễm

Viêm đại tràng mãn tính có nghĩa là tình trạng đại tràng bị viêm nhiễm. Đại tràng, còn được gọi là ruột già, là phần cuối của đường ống tiêu hóa trong cơ thể. Đại tràng là một ống dài khoảng 1,2m nhận thức ăn đã được tiêu hóa và hấp thu từ ruột non.

Đại tràng hấp thụ nước và muối khoáng từ thức ăn và cùng với sự phân hủy cùng các vi khuẩn tạo bã thức ăn thành phân, khi đủ lượng đại tràng sẽ co bóp tạo nhu động và bài tiết phân qua trực tràng. Trực tràng là phần cuối cùng của đại tràng gần hậu môn.

1. Các triệu chứng thường gặp của bệnh viêm đại tràng co thắt


- Đau bụng, thường là đau bụng ở hố chậu trái hay phải.

- Tiêu chảy, phân có nhày, có thể có máu

- Chảy máu trực tràng .

2. Nguyên nhân gây ra bệnh viêm đại tràng



- Viêm đại tràng do vi khuẩn gây ra (như shigella ,Campylobacter , E. coli , và C. difficile

- Viêm đại tràng do virus (như cytomegalovirus [CMV])

- Viêm đại tràng bức xạ (ví dụ như sau điều trị bằng bức xạ cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt )

- Viêm đại tràng thiếu máu cục bộ (như tắc nghẽn của động mạch cung cấp máu cho đại tràng bởi một cục máu đông. Nếu cục máu đông ngắt dòng chảy của máu đến một phân đoạn của đại tràng, kết quả là viêm của đoạn đại tràng đó, và đôi khi thậm chí là hoại tử).

- Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng (hai liên quan đến điều kiện được gây ra bởi các bất thường của hệ thống miễn dịch của cơ thể trong đó cơ thể tạo tự kháng thể tấn công đại tràng). Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng cũng được gọi là bệnh viêm ruột (IBD).

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

Dấu hiệu và cách phòng chống viêm đại tràng

Các dấu hiệu của bệnh viêm đại tràng co thắt


Met moi, an ngu kem, chan an, day bung, giam tri nho, hay cau gat, co the co sot. Neu bi benh nang thi co the gay sut hoc hac.

- Trieu chung co nang: Dau bung am i hoac quan thanh tung con xuat phat tu ho chau hoac ha suon lan doc theo khung dai trang trong o bung; dau quan tung con, co khi am i; khi dau thuong mot dai tien, dai tien duoc thi giam dau. Con dau thuong tai phat.

- Xuat hien cac trieu chung ve roi loan: tao bon, tieu chay nhieu lan, phan co mau, long that thuong, xung quanh phan co nhay bao boc.

Vay viêm đại tràng mãn tính la gi?


Viem viem dai trang man la tinh trang ton thuong man tinh cua niem mac dai trang, ton thuong co the khu tru mot vung hoac lan toa khap dai trang.

Viem dai trang gay ra hien tuong viem, loet va roi loan chuc nang cua dai trang.

Viem dai trang man den tu dau?

+ Di chung cua benh nhiem khuan duong ruot cap, thuong han, li truc khuan, li amip va cac nhiem trung khac.

+ Di ung.

+ Benh tu mien (viem dai trang, loet khong dac hieu).

+ Roi loan than kinh thuc vat (luc dau la roi loan chuc nang ve sau thanh ton thuong viem loet...)

+ Sau cac truong hop nhiem doc: thyroxin, asen, photpho, nhiem toan mau, ure mau cao...

Loi khuyen cho benh nhan viem dai trang man:

1. Bien phap khong dung thuoc:

+ Han che cac loai thuc an hay gay tieu chay va dau bung (thuc an nhieu dau mo, rau song, sua tuoi, do an nguoi, lanh, thuc an la, thuc an chua, cay, co gas …

+ Doi voi truong hop tao bon thuong xuyen, can uong nhieu nuoc, an them chat xo, rau qua tuoi hoac dung them chat cam (15-20g/ngay). Giam cac chat kich thich: Ngung hut thuoc, tranh uong cafe, nhung thuc an sinh hoi, nhung thuc an nhieu gia vi. Giam hoac tranh dung nhung thuc uong co con.

+ Lam viec nghi ngoi hop ly. Nghi han khi co dot tai phat.

+ An uong dung gio giac. Dai tien dung gio giac.

+ Nen hoat dong the luc, han che ngoi nhieu mot cho, tranh bot cac cang thang ve than kinh…

+ Xoa bop: Hang ngay truoc khi ngu hoac sang ngu day nen xoa nan doc khung dai trang (xuat phat tu ho chau phai sang trai). Dong tac nhe nhang vua xoa vua day nhe). Phuong phap nay rat tot trong viem dai trang co that.

+ Ve sinh moi truong song sach se, tao khong gian song thoai mai.

+ Giu cho tinh than thoai mai, han che toi da cac hoat dong gay cang thang than kinh.

Viêm đại tràng cấp và mãn tính

Ở Việt Nam, cứ 3 người lại có 1 người gặp phải vấn đề về đại tràng. Bệnh dễ thành mãn tính và có nguy cơ xuất hiện các biến chứng nguy hiểm như thủng đại tràng, chảy máu nặng hay ung thư nếu không điều trị dứt điểm.Viêm đại tràng cấp và mãn tính. Viêm đại tràng mãn tính

Bệnh đại tràng có thường kèm theo các triệu chứng như: Rối loạn tiêu hóa kéo dài, đi ngoài từ 2 đến 6 lần mỗi ngày; đi ngoài phân lúc táo, lúc lỏng, phân thường nát, không thành khuôn; bụng chướng hơi, căng tức, khó chịu dọc khung đại tràng; âm ỉ ở phần dưới bụng hoặc dọc khung đại tràng, đau tăng sau khi ăn và trước khi đi đại tiện; dễ đau bụng, chướng hơi, đi ngoài sau khi ăn những món nhiều dầu mỡ, chua cay, bia, café.

Nếu không kiên trì chữa dứt điểm thì bệnh rất dễ tái phát, trở thành mãn tính. Một khi đã mắc bệnh viêm đại tràng mãn tính, việc chữa trị trở nên rất khó khăn vì khi ấy, đã xuất hiện những tổn thương sâu và rộng trên biểu mô niêm mạc đại tràng, nhiều bệnh nhân phải chấp nhận sống chung với bệnh trong nhiều năm, thậm chí cả đời. Viêm đại tràng co thắt

Nguy hiểm hơn, viêm đại tràng mãn tính lâu năm sẽ có nguy cơ xuất hiện những biến chứng nguy hiểm như: giãn đại tràng cấp tính, thủng đại tràng, chảy máu nặng và ung thư đại trực tràng - 1 trong 5 loại ung thư nguy hiểm nhất ở Việt Nam. 

Thuốc nam gia truyền của Phạm Thị Thanh Dàng, người dân tộc Tày, có tác dụng ngay từ thang thuốc đầu tiên. Với những thành phần có nguồn gốc thiên nhiên, được bào chế theo phương thức gia truyền, thuốc một thang Phạm Dàng đã giúp nhiều bệnh nhân thoát khỏi nỗi ám ảnh đau đại tràng.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Viêm đại tràng mãn tính cần tránh những thứ nào

Bạn bị viêm đại tràng mãn tính thì cần tránh uống rượu bia, café, các đồ ăn cay, chua, quá nóng, các đồ ăn chưa nấu chín (gỏi, rau sống…) vì các loại đồ uống và thực phẩm này có tính kích ứng cao, khiến niêm mạc ruột dễ bị tổn thương, kích ứng, các loại đồ ăn chưa chín có thể chứa nhiều vi khuẩn, ký sinh trùng có hại gây viêm nhiễm tổn thương đại tràng và đường ruột.

Những người bị viêm đại tràng mãn tính nên lưu ý những điều sau đây để tránh gặp phải những cơn đau quặn, đầy hơi trướng bụng của bệnh đại tràng:

- Khi bị táo bón: Giảm chất béo, tăng chất xơ (đặc biệt là dưới dạng hòa tan như pectin, inuline, oligofructose…). Ăn làm nhiều bữa nhỏ, chừng hơn 2 tiếng lại ăn một bữa.

- Khi bị tiêu chảy: Tránh hẳn chất xơ dạng không tan như cellulose để thành ruột khỏi bị “cọ xát”. Không ăn rau sống, trái cây khô, trái cây đóng hộp, nếu ăn trái cây tươi thì phải gọt bỏ vỏ (kể cả nho). Có thể ăn trái cây xay nhừ như chuối, táo.

- Tránh chất kích thích: Những thực phẩm có chất kích thích thần kinh như cà phê, chocolate, trà, rượu bia…

- Hạn chế mỡ: Tránh những thức ăn có hàm lượng dầu mỡ quá cao như các món rán, xào, sốt…

Chữa viêm đại tràng mãn tính

Viêm đại tràng mạn tính là bệnh khá phổ biến, bệnh thường kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm, ảnh hưởng đến sức khoẻ và công tác của người bệnh. Việc điều trị cũng thường kéo dài và khó khăn, cần kiên trì và cần phối hợp nhiều biện pháp. Nguyên tắc chung là không dùng thuốc kháng sinh, trừ trường hợp có bội nhiễm, không nên lạm dụng quá nhiều thứ thuốc, chú ý chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi thích hợp và quan trọng nhất là thoải mái về tinh thần.

Về sử dụng thuốc

Có thể dùng một trong các thuốc sau đây để điều trị các triệu chứng:

Chống đi lỏng:

- Loperamide (imodium) viên 2mg, ngày uống 3 đến 4 viên chia làm 3 đến 4 lần.

- Ercefuryl viên 200mg, ngày uống 4 viên chia làm 4 lần.

- Diphenoxylase (reasec) ngày uống 2 viên chia làm 2 lần.

- Actapulgit ngày uống 2 đến 3 gói chia làm 2 đến 3 lần có tác dụng băng niêm mạc, giảm kích thích.

Chú ý: Khi đã hết đi lỏng thì không nên dùng các thuốc trên để tránh gây táo bón.

Chống táo bón:

- Ăn tăng chất xơ, chất nhày (rau mồng tơi, rau dền, rau đay, rau sam), uống nhiều nước hàng ngày.

Có thể sử dụng các thuốc sau:

- Mucipulgite, ngày uống 2 lần 3 gói chia làm 2 đến 3 lần.

- Sorbiton gói 5gam, ngày uống 1 đến 2 gói chia làm 2 lần.

- Forlax ngày uống 1 đến 2 gói, mỗi gói pha vào 1 ly nước.

- Fructines ngày uống 1 viên, ngậm vào buổi tối trước khi đi ngủ hoặc sáng sớm.

Một số bài thuốc đông y có thể sử dụng để chữa táo bón:

Bài 1: Dầu vừng, mỗi ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 20 – 30ml

Bài 2: Rau dừa nước 20 g, rau rệu 20g, rau má 40g, rau sam 20g, rau khoai lang 20g. Các thứ trên cho vào nồi sắc đặc uống hàng ngày.

Bài 3: Cỏ sữa 60g, cỏ nhọ nồi 60g. Hai thứ này cho vào nồi, đổ 250ml nước vào sắc còn 100ml uống 2 lần trong ngày.

Chống đau bụng:

- NO-SPA viên 40mg, ngày uống 4 viên chia 2 lần.

- Spasmaverin viên 40mg, ngày uống 4 viên chia 2 lần.

- Spasfon ngày uống 3 viên chia 3 lần.

Điều trị các triệu chứng khác khi bị viêm đại tràng mãn tính:

- Nhiều hơi: Dùng than thảo mộc.

Smecta: 3 gói/ngày chia làm 3 lần.

- Trạng thái lo lắng, thần kinh không ổn định: dùng thuốc an thần nhẹ: meprobamat, rotunda.

Các biện pháp hỗ trợ:

- Đi bộ nhanh trước khi đi đại tiện lúc bị táo.

- Nên vận động, đi lại nhiều, tránh ngồi một chỗ nhiều giờ.

- Tập thở bụng theo phương pháp dưỡng sinh.

- Tập cơ thành bụng, xoa bóp bụng theo chiều kim đồng hồ.

Dấu hiệu và triệu chứng cảnh báo bệnh viêm đại tràng co thắt

Biểu hiện chính của bệnh viêm đại tràng co thắt là: rối loạn tiêu hóa hoặc đau bụng quặn và đi ngoài nhiều lần trong ngày. Đau bụng với đặc điểm đau dọc khung đại tràng, thường ở nửa khung đại tràng trái và hai hố chậu, đau quặn từng cơn hay tái phát, có khi đau âm ỉ, đi ngoài được thì đỡ đau. Đi ngoài phân lỏng hoặc nát, hay mót rặn, phân có thể có nhày mũi hoặc máu, cũng có khi táo bón kèm nhày mũi hoặc táo lỏng xen kẽ.
Với những trường hợp viêm đại tràng mãn tính do lỵ amip, thường dẫn đến hội chứng lỵ hoặc tiêu chảy kéo dài hoặc xen kẽ cả tiêu chảy và táo bón kèm theo đau bụng, đầy hơi, lạnh bụng …. Tình trạng này sẽ đeo đẳng trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và tinh thần của người bệnh.


đau bụng đi ngoài, đầy hơi khó tiêu

Đi ngoài nhiều lần, mót dặn là triệu chứng của viêm đại tràng


Để điều trị dứt điểm bệnh viêm đại tràng co thắt, không còn cách nào khác là phải diệt tận gốc những mầm bệnh (vi khuẩn, ký sinh trùng). Dùng kháng sinh của Tây y có thể đạt được điều đó nhưng cũng đồng thời làm mất cân bằng hệ vi khuẩn có ích trong đường ruột. Còn dùng sản phẩm Đông y sẽ tái tạo, phục hồi niêm mạc đại tràng đã bị tổn thương mà những vi khuẩn có ích vẫn giữ được. Đối với những trường hợp đại tràng không bị chảy máu hoặc polyp đại tràng thì điều trị theo đông y được cho là phương pháp điều trị toàn diện dựa trên căn bản âm dương và tổng hòa các cơ quan trên cơ thể.

Những phiền phức do bị viêm đại tràng

Người ta thường nói “Ăn được, ngủ được là tiên - Không ăn, không ngủ mất tiền thêm lo”. Chuyện ăn, chuyện ngủ tưởng đơn giản là thế, nhưng với những người bị bệnh đại tràng, ăn uống thực sự là nỗi ám ảnh. Họ mơ ước được thưởng thức những món ăn mình muốn, được ngủ ngon giấc… nhưng dường như đó chỉ là ước mơ. Cái bụng luôn có cảm giác đau tức, ọc ạch, tình trạng đi ngoài lúc táo, lúc lỏng thường xuyên xảy ra đã ảnh hưởng không nhỏ tới tinh thần và sức khỏe của những người bị mắc chứng bệnh đại tràng.
Phiền phức như thế nào?


Ông Phạm Quy, một Đại tá công an, hiện đang sống tại số 36, ngõ 9, Đào Tấn, Ba Đình cho biết: “Tôi bị viêm đại tràng co thắt  hành hạ suốt gần 45 năm, ban đầu chỉ là những cơn đau nhỏ, thưa thớt, lâu dần đau liên tục, mất ăn mất ngủ, quặn thắt, tới mức đang nằm trên giường mà ngã vật xuống đất mà không hề hay biết….”


đại tràng tâm bình, viêm đại tràng, viem dai trang

Bác Phạm Quy chia sẻ về bệnh đại tràng mãn tính


Nhà báo Trần Đăng Hùng, Trưởng phòng Quảng cáo báo Doanh nghiệp & Hội nhập chia sẻ: “Công việc của một phóng viên thường xuyên phải đi công tác xa, hay phải rượu bia tiệc tùng, ăn uống thất thường, không đảm bảo vệ sinh nên tôi hay đau bụng, rối loạn tiêu hóa… Bệnh lâu ngày càng nặng, mỗi khi được chiêu đãi, mọi người vui vẻ cụng ly, tôi chỉ dám ngồi nhìn….”


bệnh nhân Trần Đăng Hùng, viêm đại tràng, viem dai trang

Nhà báo Trần Đăng Hùng

Chị Lương Thị Thu Phương ở Duy Ngoại, Duy Tiên, Hà Nam - một giáo viên dạy thể dục tại Trường Tiểu Học Mộc Bắc. Chị Phương bị đại tràng từ ngày còn là sinh viên khi cơ thể chị gầy yếu mà việc học ở trường yêu cầu phải thường xuyên phải tập luyện vất vả, căng thẳng lo lắng học thi đến mất ăn mất ngủ. Như thói quen của không ít người, khi biết mình bị mắc chứng bệnh đại tràng chị đã tự chữa trị theo nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên, bệnh đại tràng chỉ thuyên giảm trong thời gian ngắn và tái phát trở lại khi chị dùng những đồ ăn tanh, lạnh. Nhiều hôm Trường có liên hoan hay có cỗ bàn, cưới xin chị đều phải thoái thác vì sợ “Tào Tháo đuổi” đến cả tuần sau….

chị Lương Thị Thu Phương bị đại tràng co thắt

Chị Lương Thị Thu Phương bị viêm đại tràng co thắt

Đó là 3 trường hợp bệnh nhân điển hình của bệnh viêm đại tràng. Theo phản ánh của những bệnh nhân trên, mỗi người có một biểu hiện bệnh khác nhau nhưng đều có điểm chung là những đau đớn, khổ sở và phiền toái khó chịu do căn bệnh này gây ra.

Nhận biết những dấu hiệu về đau dạ dày

Những cơn đau co thắt ở vùng bụng khiến bạn rất khó chịu, nhiều người nghĩ rằng mình chỉ đang bị rối loạn tiêu hóa hoặc nhầm lẫn giữa đau bao tử và đại tràng. Nếu không biết cách nhận biết hoặc được khám bệnh cụ thể mà chỉ chẩn đoán mơ hồ mà dùng thuốc lung tung, bạn có thể sẽ gặp nguy hiểm.Cách nhận biết:Trước hết, ta cần hiểu rằng dạ dày thuộc về đường tiêu hóa trên, còn đại tràng là thuộc về đường tiêu hóa dưới. Do đó mà các triệu chứng biểu hiện sẽ khác nhau.


Những cơn đau bụng khiến bạn khó chịu (Internet)
Rối loạn tiêu hóa: những con đau bụng sẽ khác nhau theo từng cá nhân nhưng đều có cảm giác đau lâm râm, nặng bụng, sình bụng hay ran rát. Điểm đau là ở vùng bụng dưới bên tay trái, hoặc râm ran sang những khu vực khác cùng lúc. Đi kèm dấu hiệu đau bụng là bị đầy hơi, người bệnh thường ợ và xì hơi thường xuyên. Gặp trục trặc với cả vấn đề đại tiện như việc đi vệ sinh không còn đều đặn như trước,, người bệnh cảm thấy đau bụng từng cơn, ngày táo bón, ngày tiêu chảy.

- Đau dạ dày: đau vùng trên rốn và dưới mỏm xương ức. Đau xuất hiện hoặc tăng khi ăn - uống thức ăn chua, cay, bia rượu… hay khi bị căng thẳng thần kinh. Sẽ có thêm hiện tượng ợ chua, ợ hơi hoặc ợ thức ăn lên nửa chừng, và kem theo dấu hiệu đau sau xương ức. Đau sẽ giảm khi uống thuốc kháng axit hay thuốc băng niêm mạc dạ dày. Ngoài ra, có thể có cảm giác đầy bụng, khó tiêu, kèm theo nôn ói.

- Đau đại tràng: đau phần bụng dưới rốn, đau âm ỉ kèm theo cảm giác lúc nào cũng muốn đi cầu (đi tiêu, đại tiện). Sau khi đi cầu xong thì bớt đau nhưng sẽ nhanh chóng muốn đi cầu nữa, đặc biệt là sau khi ăn, uống café, sữa... Ngoài ra, có thể còn tiêu chảy có đàm nhớt hoặc táo bón. Hai triệu chứng này có thể xen kẽ nhau trong nhiều ngày. Đau bụng trong bệnh viêm đại tràng co thắt rất đa dạng, có thể đau sau ăn, có thể đau khi ăn no, đặc biệt là đau sau khi ăn một số thức ăn lạ, chua, cay, lạnh, rau sống, tiết canh…

Ăn uống để giảm bệnh:

Thay đổi cách ăn uống giúp bạn giảm bệnh (Internet)
- Rối loạn tiêu hóa: Tránh ăn Hành tây, tỏi, đậu, cần tây, bắp cải, mận, chuối, nho khô, rau húng quế… Đừng uống quá nhiều cà phê cũng như uống sữa. Tránh các thức ăn, nước uống chứa quá nhiều sorbitol (đây là đường dùng trong các loại nước ngọt ăn kiêng), kẹo cao su hoặc quá nhiều đường fructose (như trong mật ong và một số trái cây). Bệnh nhân nên ăn nhiều rau, uống nhiều nước nhất là với người có khuynh hướng bị tiêu chảy và táo bón.

- Đau dạ dày: Không ăn những món có nhiều gia vị, chua, cay và ăn quá no, nên nhai kĩ, nuốt chậm. Nên ăn những thức ăn giàu dinh dưỡng, mềm và dễ tiêu hóa như cháo, mỳ sợi nhỏ, cơm nhão…. chúng dễ tiêu hóa, lại có chất kiềm, có tác dụng làm bão hòa axít trong dạ dày. Ngoài ra, người bị đau dạ dày, còn phải giữ cho tinh thần luôn vui vẻ, gây dựng thói quen tốt trong sinh hoạt, không nên làm việc quá mệt mỏi, căng thẳng, hút thuốc lá và uống rượu, như vậy mới có thể tránh khỏi tình trạng bệnh nặng hơn.

- Viêm đại tràng: Nếu bệnh nhân viêm đại tràng(viêm đại tràng co thắt hoặc viêm đại tràng mãn tính mà bị táo bón nên ăn bổ sung chất xơ, ăn nhiều hoa quả và rau xanh; bị tiêu chảy thì hạn chế các đồ ăn như hoa quả tươi, nước trái cây. Chọn thức ăn giàu omega 3 như các loại cá. Không dùng thực phẩm làm từ sữa, giảm lượng đồ ngọt và không uống rượu hay cà phê. Nhưng tốt nhất, nếu có bất kỳ dấu hiệu đau bụng nào mà bạn không an tâm, hãy đi khám ngay để được bác sĩ chẩn đoán chính xác và đưa ra cách điều trị tốt nhất, bạn nhé!Để biết thêm các bệnh từ vị trí đau bụng khác nhau, bạn có thể tham khảo tại bài "Chẩn đoán các vị trí đau bụng".

Những dấu hiệu và biểu hiện của rối loạn chức năng dạ dày

Dạ dày đảm nhận hai chức năng chính là tiết dịch và vận động. Khi hai chức năng này hoạt động không nhịp nhàng do một nguyên nhân nào đó sẽ dẫn đến hiện tượng rối loạn, có thể là rối loạn chức năng hay rối loạn tiết dịch đòi hỏi người bệnh phải tuân thủ điều trị. Đối tượng thường gặp phải rối loạn chức năng dạ dày chủ yếu là người trẻ tuổi, đặc biệt ở lứa tuổi dậy thì, người có trạng thái thần kinh dễ xúc cảm hoặc người có trạng thái rối loạn thần kinh thực vật.
Vì sao chức năng của dạ dày bị rối loạn?
Rối loạn chức năng dạ dày có thể gặp trong nhiều trường hợp, có thể do tâm lý hoặc do bệnh lý.

Rối loạn chức năng dạ dày nguyên phát: thường là do những yếu tố thần kinh tâm thần gây nên, ví dụ như sự bực tức, phẫn nộ hay sợ hãi, các sang chấn tâm lý ở các mức độ khác nhau...
Rối loạn chức năng dạ dày thứ phát: thường xảy ra sau các bệnh mạn tính như viêm đại tràng mạn, viêm ruột thừa mạn, viêm tụy mạn, viêm túi mật mạn, viêm gan mạn hoặc do sai lầm trong ăn uống: ăn vội vã, nhai không kỹ, giờ giấc ăn thất thường, lao động nặng nhọc ngay sau bữa ăn, ăn nhiều gia vị, uống nhiều rượu bia...
 

Giãn dạ dày do rối loạn chức năng.

Dấu hiệu của rối loạn chức năng dạ dày
Theo định nghĩa, rối loạn chức năng dạ dày được chia làm hai nhóm chính: Nhóm bệnh gây rối loạn vận động (thường gặp là các bệnh như: giảm trương lực dạ dày, mất trương lực dạ dày, giãn dạ dày cấp, tăng trương lực dạ dày,viêm loét dạ dày...); Nhóm bệnh gây rối loạn tiết dịch (với các bệnh như vô dịch vị, vô toan, tăng toan, tăng tiết).

Cũng vì vậy mà biểu hiện lâm sàng đa dạng phụ thuộc chủ yếu vào nhóm nguyên nhân. Phạm vi bài viết này đề cập đến một số dạng thường thấy:

Giãn dạ dày cấp: thường xuất hiện sau chấn thương ổ bụng (mổ, vết thương); viêm tụy có mủ; ăn hoặc uống quá mức kéo dài. Biểu hiện chủ yếu: đau thượng vị dữ dội, đột ngột như đau bụng cấp hoặc đau bụng âm ỉ, ậm ạch; nôn nhiều, kéo dài gây rối loạn nước và điện giải, có thể dẫn đến tử vong. Xquang: dạ dày giãn to, ứ đọng thức ăn, dịch. Cần điều trị ở tuyến chuyên khoa.

Tăng toan: xuất hiện do căng thẳng thần kinh, tâm thần, nghiện thuốc lá; loét dạ dày, hành tá tràng, viêm dạ dày giai đoạn đầu. Biểu hiện: đau thượng vị, cảm giác nặng bụng, HCl tự do tăng trên 40mEq. Điều trị: ăn uống điều độ, bỏ thuốc lá. Dùng các thuốc giảm tiết, băng se niêm mạc dạ dày, sinh tố, an thần.

Tăng trương lực dạ dày: nguyên nhân do chấn thương tâm thần, nhiễm độc chì, thiếc mạn tính; trong các cơn đau quặn gan, thận; trong bệnh viêm loét dạ dày, đại tràng. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu: Đau thượng vị thường xuyên, tăng khi xúc động, khi lao động; buồn nôn, nôn, ợ chua, ợ hơi; Xquang dạ dày hình sừng bò. 

Điều trị: kiêng ăn uống các chất kích thích mạnh, dùng thêm sinh tố, an thần, chống co thắt cơ trơn.
Giảm trương lực dạ dày: thường xuất hiện sau chấn thương các loại; sau căng thẳng thần kinh tâm thần; bội thực sau một thời gian dài nhịn đói; sau một số bệnh lý: viêm đường mật, viêm tụy, viêm dạ dày. Các biểu hiện chính là: mệt mỏi, giảm sức lao động, khó ngủ; cảm giác đầy bụng, ậm ạch, đau lâm râm, ăn kém, chóng no, buồn nôn, nóng rát, ợ hơi, táo, lỏng, chướng bụng. X- quang dạ dày giãn dài, co bóp yếu. Điều trị: thể dục liệu pháp, xoa bóp, lý liệu. Ăn uống điều độ. Dùng thuốc vận động và vitamin nhóm B.

Co thắt môn vị: nguyên nhân do loét dạ dày tá tràng, polyp dạ dày; viêm loét dạ dày tăng toan; viêm đại tràng mạn; nghiện thuốc lá nặng; thiếu vitamin B1. Triệu chứng: đau hạ sườn phải giống đau quặn gan; nôn nhiều gây rối loạn điện giải, kiềm máu; có thể sờ thấy một khối u rắn ở hạ sườn trong cơn đau. Xquang ứ đọng baryt ở dạ dày. Điều trị: ăn uống nhẹ, tránh các chất kích thích; dùng thuốc an thần, giãn cơ và truyền dịch khi nôn nhiều.

Chậm tiêu: bệnh cảnh lâm sàng chính là cảm giác đau và khó chịu vùng bụng, nhất là vùng thượng vị sau ăn bao gồm nhiều mức độ khác nhau từ cảm giác khó chịu, nóng ran, đau tức hoặc cảm giác căng tức, bệnh nhân có cảm giác mau no, buồn nôn và nôn. Các triệu chứng kéo dài trên 3 tháng, với ít nhất trên 3 đợt.